Những quả bóng golf đầu tiên được sử dụng từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 17 được làm bằng gỗ cứng. Chứng cứ tại Scotlen người ta tìm thấy những quả bóng được làm từ gỗ sồi và những chiếc gậy golf bằng gỗ cứng. Sau đó người ta nghĩ đến việc làm cho những quả bóng trở nên mềm hơn và dễ kiểm soát hơn bằng cách sử dụng chất liệu da. Họ đã sử dụng da bò để may lồng ra ngoài những quả bóng gỗ và nhét long gà long ngỗng mềm ở bên trong, chúng cũng được phủ sơn màu trắng như bình thường. Nhưng những quả bóng đó thực sự quá tống kém bởi 1 người thợ trong 1 ngày chỉ có thể hoàn thành xong 1 quả bóng.

Chúng có giá lên đến 2 shilling tương đương với 20USD Mỹ hiện nay. Và người sản xuất cũng gặp khó khăn trong việc may 1 cách hoàn hảo để quả bóng có hình cầu, và bán những quả bóng golf đó cho đông đảo mọi người. Chưa kể da còn hút ẩm và nó làm trọng lượng của quả bóng golf cũ thay đổi khó kiểm soát. Cho đến thế ký 19, tiêu chuẩn của 1 quả bóng golf vẫn chỉ dừng lại ở chất liệu gỗ.

Năm 1848, tiến sĩ Robert Adams Paterson đã phát minh ra bóng golf với cái tên gutta-percha được làm nhựa sấy khô của cây hồng xiêm Malaysia. Nhựa cây đã có một cảm giác giống như cao su và có thể được làm tròn bằng cách nung nóng và tạo hình nó trong một khuôn tròn.

Bóng Golf gutta-percha chi phí sản xuất rẻ hơn, có thể tái chế lại nếu hư hỏng và có thể cái thiện đáng kể độ kiểm soát bóng nên nó nhanh chóng được sử dụng rộng rãi. Vô tình các nhà sản xuất đã phát hiện ra một quả bóng với bề mặt lồi lõm sẽ phù hợp hơn 1 quả bóng golf trơn tru.

Từ đó các nhà sản xuất cố ý tạo các vết lồi lõm trên bề mặt của những quả bóng golf bằng cách sử dụng một con dao hoặc búa và đục, cho guttie một bề mặt kết cấu. Đột phá tiếp theo của công nghệ chế tạo bóng golf là năm 1898 Coburn Haskell ở Cleveland, Ohio đã đẩy đến gần Akron, và làm quản lý tại Công ty B.F. Goodrich. Trong khi đợi các thiết bị máy móc đến làm việc Haskell chọn một số sợi cao su và kết chúng thành 1 quả bóng. Ông thử đập đập chúng và thật bất ngờ độ nảy của chúng đã lên gần tới sàn nhà. Nó mở đầu cho 1 thời kỳ mới và thiết kế mới này được biết đến như là cao su Haskell bóng golf.

Trong những năm 1900, quả bóng golf dimpling có khả năng kiểm soát tốt hơn tất cả những loại bóng trước đó. David Stanley Froy, James McHardy, và Peter G. Fernie nhận bằng sáng chế vào năm 1897 cho một quả bóng với vết lõm; Froy chơi nó vào năm 1900 tại Old Course với nguyên mẫu đầu tiên. Các nhà sản xuất đãn sớm bắt tay vào bán những quả bóng golf đầu tiên với lúm đồng tiền khác nhau trên bóng để cải thiện chiều dài, quỹ đạo, spin và những cảm giác bóng khác.

Vào giữa những năm 1960, một loại nhựa tổng hợp mới, một ionomer axit etylen tên “Surlyn,” đã được giới thiệu, nó thật sự ra bền hơn và khả năng chống cắt. Cùng với các vật liệu khác nhau mà đưa vào sử dụng để thay thế cao su, bóng golf đã được phân loại là hai lớp, ba lớp, bốn lớp theo số lượng của các thành phần của lớp. Và công nghệ sản xuất bóng golf hiện đại với những chất liệu đa dạng, bắt đầu từ đây. Những mắt bóng được tính toán 1 cách chính xác để người chơi có thể kiểm soát bóng tốt nhất. Nên ngay cả khi những quả bóng golf cũ được sử dụng lại nhiều lần chất lượng của chúng vẫn rất tốt. Mà giá bán của những quả bóng golf cũ chỉ bằng 1/4 so với bóng mới.